Tác giả: Song Nguyễn

CUỘC ĐỜI DÂNG HIẾN
Tác giả: Song Nguyễn
Chương 7
Người thầy thuốc toàn khoa
Dì Lan ngước mắt lên nhìn ba như để nhận định
thái độ của ba trước câu chuyện Dì đang kể,
và
ba đoán là Dì Lan bằng lòng về sự chăm chú của
ba. Hơn nữa, nếu Dì Lan quan sát ba hồi nãy, có
lẽ Dì còn thấy ba xúc động ứa nước mắt trước nỗi
khó khăn hầu như quá sức đối với một Dì phước
non trẻ, mới chập chững bước chân vào đời. Sau
khi nhìn ba và đánh giá được thái độ của ba, Dì
Lan lại say sưa kể. Dì nói với một giọng thâm
tín và kính phục người chị em quá cố. Dì Lan nói
tiếp:
-
Đối với một bệnh nhân ngoài việc lo ăn uống tẩm
bổ ra, nếu muốn cứu sống bệnh nhân còn phải
lo thuốc thang cho bệnh nhân nữa. Trường hợp của
Dì Antony ở đây cũng thế, không phải Dì chỉ lo
cho một bệnh nhân nhưng là hàng trăm người, lại
là thứ bệnh nguy hiểm không ngăn chặn kịp thời
thì sự
tàn phá sẽ ghê gớm. Chính chị Antony đã hốt
hoảng tâm sự với Chúa,
Dì viết:
“…
Đây là người thứ ba rồi. Chưa đầy một tháng con
có trách nhiệm mà đã ba người ra đi rồi! Họ
thiếu ăn? Thiếu thuốc? Nhưng,
theo con thì chắc họ thiếu ăn và nhất là thiếu
thuốc, thiếu sự chăm sóc… Con không biện hộ cho
con, nhưng Chúa biết đó…”.
-
Thật sự trong hoàn cảnh của Dì Antony, Chúa
không phàn nàn, trái lại Chúa còn cao rao Dì là
khác.
Theo những người chứng kiến kể lại thì Dì đã làm
quá sức của Dì.
Ngay trước ngày tu viện phải rút khỏi trại,
trao trách nhiệm lại cho một mình Dì.
Số
thuốc trong trại hầu như chẳng còn gì vì cuộc
chiến đã kéo dài, dai dẳng từ lâu. Thuốc tiếp tế
khi có khi không. Bao nhiêu thuốc dự trữ đem
dùng cả.
Hy
vọng thuốc tiếp tế sẽ tới, nhưng rồi chiến tranh
đột ngột kết thúc, nguồn tiếp tế thuốc cũng cắt
đứt,
và rồi các Dì chuyên môn cũng đột ngột ra đi…
Trong hoàn cảnh vừa thiếu thốn thuốc men trầm
trọng, vừa
thiếu người chuyên môn vừa thiếu nhân sự, một
mình Dì Antony có thể làm gì được?
Khi được nghe
kể lại, ai cũng phải ngạc nhiên gần như một phép
lạ về những việc Dì Antony làm trong thời gian
ấy.
Như tôi vừa nói, trước một tình thế hết sức căng
thẳng, các bệnh nhân bị dồn vào thế liều lĩnh.
Dì Antony vừa phải trấn an và vãn hồi trật tự,
nhất là niềm tin cho nhân dân trong trại, vừa
phải lo tìm lương thực cứu sống bệnh nhân, vừa
phải chạy chữa và săn sóc bệnh nhân. Công tác
nào cũng khẩn trương và phải tiến hành cùng lúc.
Về vấn đề giải quyết lương thực có khó thật,
nhưng dù sao cũng còn ban đại diện và lực lượng
đông đảo bệnh nhân phụ giúp. Còn về phương diện
y tế,
không phải ai cũng làm được?
Ngay chính bản thân Dì Antony lúc bấy giờ cũng
mới là một y tá tập sự. Khấn xong Dì đang tập sự
tại dưỡng lão viện,
được gửi tới đây để thực tập và
học hỏi thêm nơi các Dì đi trước,
và thời gian học tập của Dì chưa được bao lâu
nên có thể nói tay nghề của Dì còn non trẻ.
Nhưng chắc chắn một điều là phần lý thuyết của
Dì rất vững. Sở dĩ chúng tôi có thể nói được như
vậy vì qua những tài liệu để lại Dì Antony là
một học viên xuất sắc về y tế khi Dì còn học ở
nhà dòng,
và cũng chính vì thế mà nhà dòng muốn đưa Dì về
nơi trọng yếu,
với hy vọng Dì sẽ học hỏi cho vững tay nghề và
có dịp giúp ích nhiều cho bệnh nhân. Không ngờ
việc làm có vẻ tự nhiên như vậy lại là việc Chúa
quan phòng đặt Dì Antony vào đúng vị trí của
Ngài.
Trong khi vừa điều trị vừa băng bó cho bệnh
nhân, Dì Antony vừa cấp tốc huấn luyện một số
người
khoẻ
mạnh có năng khiếu để giúp đỡ Dì.
Trong
số các trợ tá đó có một người thanh niên tương
đối
khoẻ
mạnh, nhanh nhẹn và tháo vát giúp việc Dì rất
đắc lực. Dì viết:
“Anh
H. đó Chúa! Anh ta được việc lắm
và lại được bệnh nhân thương mến…”.
Anh
H.
hiện nay anh vẫn còn sống và rồi tôi sẽ có dịp
nói nhiều về anh, nhưng ở đây tôi chỉ nói về
công việc chuyên môn anh giúp Dì Antony trong lĩnh
vực y tế.
Sau một thời gian
ổn
định và dạy chuyên môn, nhà thương và
phòng khám bệnh của trại có thể hoạt động lại
được, mặc dù chẳng được như trước nhưng cũng có
thể được phân nửa.
Thuốc men hạn chế tối đa, ngoài số thuốc quý -
quý ở đây là thuốc của bệnh
phong
- còn lại và một số hiếm hoi
Toà
Giám Mục gửi cho chỉ được dùng trong những
trường hợp khẩn. Ngoài ra còn những vết thương
nhẹ và những bệnh nhẹ chỉ cần ngăn chận bước
tiến của vi trùng thì sử dụng những thuốc tự bào
chế. Vì thế vườn thuốc tự chế đã được phát triển
tối đa. Môn thuốc này phần lớn dựa vào kinh
nghiệm và sự chỉ dẫn của một số bệnh nhân đồng
bào sắc tộc. Thầy Sáu tức anh H. nghiên cứu và
đem vào vườn trồng rồi đem sử dụng, đặc biệt về
phương diện tẩy trùng và giảm đau.
Mỗi khu vực Dì Antony cắt cử người trợ ta
và
người trợ tá có nhiệm vụ báo cáo tình hình khu
vực bệnh tật
để
kịp thời chuyển đến nhà thương những người cần
được săn sóc nhiều. Còn trong nhà thương đứng
đầu đội ngũ trợ tá là anh H. Thầy Sáu sẽ cho Dì
biết tình trạng từng người mới nhập nhà thương,
rồi đích thân Dì Antony sẽ khám nghiệm và định
mức độ khẩn trương của từng bệnh nhân.
Sở dĩ Dì Antony phải khám nghiệm và định mức
tình trạng của bệnh nhân vì tay nghề của Dì.
Người chứng kiến kể lại: hình như Dì Antony có
một giác quan thứ bảy. Dì khám bệnh và gọi bệnh
rất chính xác. Điều này các bệnh nhân còn lại ai
cũng phải công nhận: “Dì gọi bệnh như thánh”.
Hơn nữa, nhiều khi Dì Antony không cần khám, Dì
chỉ ngó mặt cũng phát hiện ra bệnh mà chính bệnh
nhân cũng chưa cảm thấy. Một trong những trường
hợp được chính Dì Antony ghi lại làm chứng:
“…
Con phải khổ với thằng bé đó quá, Dì Antony tâm
sự với Chúa, con đã bảo nó mà nó không nghe.
Nhưng rồi Chúa vẫn còn thương nó, nếu không thì
trại chúng con lại thêm một…”.
Và người chứng kiến thì thuật lại câu chuyện đó
như thế này:
hôm
đó Dì Antony đang đi trên hè, tình cờ Dì gặp
thằng N. Dì ngó qua thằng N. và gọi giật nó lại,
Dì bảo nó:
-
Con phải vào phòng thuốc nói với thầy Sáu cho
con uống thuốc trừ sốt rét ngay.
Dì Antony còn nhấn mạnh thêm.
-
Dì nói phải nghe ạ!
Thằng N. đứng tần ngần, nó băn khoăn không hiểu
tại sao Dì nói với nó như vậy, bởi vì sáng ngày
nó còn ăn vượt tiêu chuẩn. Nó nghĩ hay có lẽ vì
nó ăn dành phần người khác và đã có ai tố cáo Dì
nên Dì bắt nó uống thuốc cho bớt ăn dành? Nhưng
Dì bảo là nó không dám cưỡng.
Nó vào phòng phát thuốc đứng vớ vẩn ở
trước phòng mãi không dám vào. Một lúc sau Dì
Antony có dịp đi qua thấy nó còn đứng đó. Dì lại
hối:
-
Kìa N. sao con không vào phòng xin thuốc uống đi
con?
Nói rồi Dì có việc gấp lại phải đi ngay.
Thằng
N. vào xin thuốc,
thầy
Sáu ngó trừng nó thầy tưởng nó giỡn, thầy nẹt
nó. Nó vội thưa:
-
Dì Antony bảo con vào thầy xin thuốc sốt uống.
Thầy Sáu chau mày suy nghĩ một lát, thầy đoán có
lẽ Dì Antony nói gì đó mà nó nghe lộn nên thầy
không cho. Thầy định tâm để hỏi lại Dì,
vì trong giây lát nữa Dì có việc phải trở lại
phòng thuốc.
Hơn nữa,
thầy
cảm
thấy thắc mắc:
một
người đang khỏe mạnh đè ra cho uống thuốc, chích
trừ sốt rét là một chuyện phản y khoa quá.
Nhưng rồi vì quá nhiều việc nên thầy Sáu quên.
Đàng khác, Dì Antony có những việc quan trọng
hơn không trở lại phòng phát thuốc như dự tính.
Thế là thằng N. đứng đợi một hồi không ai ngó
ngàng gì, nó bỏ về trại và chỉ mấy giờ đồng hồ
sau thằng bé lên cơn sốt thật. Và khi người trợ
tá khu vực phát hiện ra được đưa nó đến nhà
thương thì thằng bé nóng như hòn than.
Dì Antony được cấp tốc mời tới. Tới nơi Dì bỡ
ngỡ thấy con bệnh chính là thằng N. hồi sáng Dì
đã gặp nó và hối nó đi uống thuốc và chích ngừa.
Dì kêu thầy Sáu để hỏi lại trường hợp thằng N.,
thầy Sáu mới sực nhớ và tường thuật lại việc nó
đến xin thuốc… và thầy đã từ chối. Thế là Dì
Antony đã phải vất vả lắm mới giật được mạng
sống của nó khỏi tay thần chết.
Cũng chính vì tài chẩn bệnh khác thường của Dì
Antony như vậy, nên bệnh nhân nào cũng đòi phải
được Dì khám và chỉ bệnh họ mới yên tâm. Ngay cả
khi những bệnh thường thường thầy Sáu đã chỉ, họ
cũng lén để Dì Antony xem lại. Còn một yếu tố
nữa khiến Dì Antony phải khám nghiệm và định
bệnh,
là vì các bệnh
nhân được nằm trong nhà thương được đãi ngộ rất
nồng hậu.
Đang
khi ở ngoài vì hoàn cảnh hết sức khó khăn nên
phần ăn vừa phải ăn độn tối đa, vừa phải ăn theo
tiêu chuẩn; trong khi được nằm trong nhà thương
phần ăn tự do lại không phải ăn độn.
Hơn
nữa
lại
được săn sóc tận tình nên nhiều bệnh nhân muốn
được vào nhà thương để bồi dưỡng.
Vì có những lạm dụng như vậy, một số người đã đề
nghị với Dì Antony để phần ăn trong nhà thương
giống như ở ngoài. Nhưng Dì Antony giải thích:
-
Đáng lý ra mọi bệnh nhân ở trại này phải được
đãi ngộ như ở đây và hơn ở đây nhiều nữa. Nhưng
vì hoàn cảnh quá eo hẹp thì ít ra những người
bệnh nặng vào nằm đây
cần
phải được săn sóc tốt hơn. Dì Antony nói và đã
làm gương cho mọi người. Dì ăn phần ăn của người
bệnh bình thường và còn dưới mức tiêu chuẩn nữa.
Và Dì quyết tâm theo tiêu chuẩn ấy dù ban đại
diện hay nhiều người yêu cầu và viện
dần đủ lý do, Dì cũng không thay đổi.
Trong khi đó sức lực của Dì hầu như dành hết cho
bệnh nhân, Dì phục vụ họ không kể đêm ngày.
Dì tâm sự với Chúa, Dì viết:
“Chúa đừng buồn con Chúa nhá! Con mệt quá Chúa
ơi! Nên con mới ngủ gục trước mặt Chúa đó! Tuy
nhiên dù sao con cũng xin nhận khuyết điểm. Cái
mệt của con đâu có thể sánh được với cái đau đớn
của những người Chúa yêu. Cái mệt của con mới
chỉ là một phần nhỏ trong cái đau đớn, khinh
miệt và… mà những bệnh nhân, những người Chúa
yêu đây phải chịu. Con chung phần với họ làm
thành hy tế dâng lên Chúa. Chúa tha thứ cho con
và Chúa thương họ Chúa nhá”
Cơn mệt mà Dì Antony tâm sự với Chúa
ở
trên là một trong những cơn mệt liên miên của
Dì. Theo nhân chứng kể lại thì Dì đã bỏ ăn và
nằm luôn hai ngày trong cơn mệt này:
Bữa đó, không hiểu vì bất cẩn như thế nào, ban
nấu ăn có bỏ lầm mấy con cá cóc - người ta đoán
thế. Thực ra cũng không có gì chắc chắn,
bệnh nhân ăn vào mắc ói mửa và đi cầu dữ dội.
Cả trại được báo động khẩn cấp. Còn Dì
Antony vừa lo vừa làm hết mình để cứu các nạn
nhân.
Sau một ngày làm việc không ngưng nghỉ, Dì
Antony mới đẩy lui được thần chết chực bắt đi
của Dì từng chục mạng người. Tối đến Dì đang tâm
sự với Chúa về biến cố ban ngày thì Dì được gọi
vội xuống nhà thương. Người báo tin cho Dì hớt
hải nói không ra lời. Nhưng đối với Dì Antony,
Dì chẳng cần nghe kể nể dài dòng, cứ nghe báo
bệnh nặng là Dì lao tới. Người báo tin lấy hơi
gọi giật Dì Antony lại. Y nói:
-
Dì! Khoan con nói đã!
Dì Antony ngưng lại rồi lại tính bước đi. Nhưng
người báo tin vừa với tay vừa kêu:
-
Dì!
Dì Antony khựng lại và khi đợi cho người báo tin
tới, Dì hỏi:
-
Lại thêm một người đi tả nữa hả!
-
Dạ! Thưa không.
Dì hốt hoảng hỏi:
-
Thế bệnh gì? Nói mau!
Hỏi rồi Dì nắm tay người báo tin lao về phía nhà
thương, vừa đi Dì vừa hỏi:
-
Bệnh gì vậy?
-
Dạ! Thưa không bệnh. Đẻ!
Dì Antony nghe nói
“Đẻ”,
Dì buông tay người báo tin, đứng khựng người ra
như để moi óc nhớ lại những điều đã học. Dì vỗ
tay bù đầu như để cố nhớ những hiểu biết của Dì
về nghề hộ sinh. Nhưng rồi như sực nhớ ra điều
gì, Dì quay gót vội vàng trở lại nhà nguyện.
Người báo tin cho Dì đứng ngẩn người ra, bối rối
không biết nên theo Dì trở lại nhà nguyện hay
đứng đợi. Y đoán có lẽ Dì quên cái gì trong nhà
nguyện nên trở vào lấy. Y chắc trong giây
lát
Dì sẽ trở ra,
vì y vẫn biết đối với bệnh nhân Dì
luôn
đặt lên hàng đầu trong những việc khẩn cấp của
Dì.
Đợi
một lát không thấy Dì trở ra, y quay gót trở lại;
hơn nữa y đang cầm ngọn đèn bão, y muốn trở vào
để lỡ Dì có tìm cái gì sẽ dễ dàng hơn.
Trở vào nhà nguyện,
y nhớn nhác nhìn tìm bóng Dì.
Y
ngạc nhiên thấy Dì đang quỳ trước tòa Đức Mẹ và
đang lâm râm kêu khấn gì với Đức Mẹ. Thấy có
bóng đèn và người trở lại, Dì Antony đứng dậy
chào Đức Mẹ rồi ra đi xuống thẳng nhà thương.
Đến gần nhà thương Dì đã nghe tiếng người kêu
la, người đi bên nói với Dì Antony:
-
Tiếng người đàn bà đó!
Dì Antony vội bước
đi không trả lời, tâm trí Dì như tập trung cả
vào nạn nhân. Dì phải làm thế nào cho tiếng kêu
im đi, nghĩa là gấp rút cứu nạn nhân thoát nạn.
Nhưng khi Dì đến gần, người trợ tá hộ sinh đang
loay hoay với nạn nhân, thấy bóng Dì, người trợ
tá vội chạy lại đón Dì và nói nhỏ:
-
Bà ta trở ngại không sinh được.
Dì Antony gật đầu, rồi đẩy người trợ tá. Dì tiến
lại gần
và
cầm tay nạn nhân an ủi:
-
Dì đây! Mẹ K. ráng chịu đựng đừng la để Dì giúp.
Nạn
nhân gồng mình cắn răng cố dằn tiếng kêu, rồi
nạn nhân rên rẩm nói:
-
Dì cứu…
Vừa vỗ về nạn nhân, Dì vừa quay nói nhỏ với
người trợ tá:
-
Lần trước bà ta sanh cũng phải nhờ bác sĩ ngoài
thành vào giải phẫu…
Nghe
Dì Antony nhắc đến chuyện đó chị mới nhớ ra
trước đây có nghe nói, nhưng chị
đã quên mất rồi. Còn Dì Antony, Dì nhớ rất rành
mạch. Người trợ tá hỏi lại Dì Antony, Chị nói:
-
Vậy bây giờ phải làm sao?
Suy nghĩ một lát, Dì Antony lắc đầu. Dường như
Dì duyệt xét lại tình hình
lúc này chẳng còn có thể làm được gì như xưa
nữa, mọi phương tiện đã bị cắt đứt và mọi việc
đành bó tay. Tất cả, phải tất cả đều tự túc và
trông cậy vào ơn trên. Nhưng rồi bằng một giọng
nói đầy tin tưởng và bình thản, Dì Antony nói:
-
Đưa chị ta lên bàn giải phẫu!
Người trợ tá và mấy người có mặt ngó nhau, họ sợ
tai họ nghe lộn hay là Dì nói lộn. Thực sự mọi
người ở đây đều nhận Dì Antony rất xuất sắc về
nghề thuốc, nhất là từ ngày còn lại một mình Dì.
Nhưng còn việc phải giải phẫu là một việc chuyên
môn dành cho bác sĩ chuyên môn.
Bằng
chứng là trước đây mỗi khi trại có trường hợp
phải giải phẫu, các Dì thường phải mời bác sĩ
chuyên môn chẳng hạn trường hợp người đàn bà
này. Trong khi đó Dì Antony mới thực hành nghề y
tá và chưa hề giải phẫu lần nào. Vì những lý do
đó nên người trợ tá mới nghi ngờ mệnh lệnh của
Dì Antony. Nhưng có thể Dì đọc được điều nghi
ngờ đó, Dì Antony nói lại:
-
Đưa chị ta lên bàn giải phẫu đi!
Nói rồi Dì đi lấy dụng cụ giải phẫu…
Và người chứng kiến thuật lại: Dì Antony làm
việc đó không có gì là gượng ép lúng túng, trái
lại rất cẩn thận và kỹ lưỡng. Có điều hơi lâu,
nhưng rồi Dì cũng đã cứu được người đàn bà và
đứa nhỏ. Khi đã làm xong công việc,
Dì Antony phải nhờ người khác dìu về phòng và
rồi suốt hai ngày Dì nằm li bì trên giường bệnh.
Kết quả của những công việc mệt nhọc và nhất là
dồn
tâm trí nghị lực để giải phẫu đã giữ chân Dì
Antony lại trên giường bệnh.
Việc này đã
làm cho cả trại phải lo lắng. Trong khi đó,
Dì Antony không cho ai giúp đỡ săn sóc Dì ngoài
một bé gái Dì thường đưa đi theo.
Dì tự chạy chữa và nhờ bé giúp đỡ. Cũng vì thế
mà tin tức bệnh trạng của Dì không được phổ biến,
gây nên bầu không khí u ám trong trại. Đã có
người nghĩ tới nếu như Dì Antony, linh hồn của
trại mà có mệnh hệ nào thì chắc trại cũng chết
theo, nên có nhiều người thiếu kiên nhẫn đòi ban
đại diện phải cho biết tình trạng sức khoẻ của
Dì và phải cử người săn sóc cho Dì… Có lẽ cũng
vì nhu cầu cần thiết sự hiện diện của Dì và tình
cảm bệnh nhân đã dành cho Dì, nên sau hai ngày
nằm liệt Dì đã có thể chỗi dậy đi lại và ra
những chỉ dẫn cần thiết trong sinh họat trại…
Ngay cả việc Dì Antony chỗi dậy cũng là một việc
khác thường,
theo như người biết chuyện kể lại thì trước đó
Dì Antony bị cảm sốt nặng. Dì nằm li bì không ăn
chỉ uống một chút nước với mấy viên thuốc thông
thường.
Cứ
như mọi người Dì phải nằm cả tuần, có khi cả
tháng;
trái
lại Dì Antony chỉ nằm trong một thời gian ngắn
và gần như không săn sóc thuốc men gì.
Điều
đó đã làm cho cả trại đồn đại kháo láo với nhau:
Dì Antony được phép lạ.
Việc Dì khỏi bệnh mau chóng và những cách Dì
Antony chữa trị cho bệnh nhân đã gây nên một sự
tín nhiệm lạ lùng,
mà hầu như một thầy thuốc cao tay cũng không dễ
gì dành được. Nắm được cơ hội tốt đó, Dì Antony
cố sức thực hiện kế họach của Dì. Dì viết lại
trong nhật ký của Dì:
“Thời gian này… không trông cậy gì có thêm chị
em, có được những người chuyên môn chăm sóc cho
bệnh nhân. Tốt hơn hết mình phải tự đào tạo lấy
tay nghề, càng nhiều càng tốt, càng chuyên càng
hay, nhất nữa là như cơn đau vừa rồi nếu Chúa
không thương và can thiệp đặc biệt thì…”.
Dì Antony hướng dẫn kỹ càng cho những trợ tá đặc
biệt là thầy Sáu. Nhờ có kiến thức và nhất là
nhiệt tâm, thầy Sáu tỏ ra không thua kém những
tay nghề chuyên môn. Có nhiều trường hợp
thầy
làm cho người khác ngạc nhiên như lần
thầy
nhổ răng cho một bệnh nhân. Bình thường thì
thầy vẫn
nhổ răng sâu cho các bệnh nhân trong trại.
Nhưng
có một thiếu nữ bị một cái răng hàm, chân răng
ăn móc với giây thần kinh trọng yếu,
mà trước kia bác sĩ,
nha y cũng không dám nhổ. Mỗi lần cô đau, bác sĩ
chỉ chữa cho giảm đau, nhưng
rồi
nó lại đau nhức và mỗi lần như vậy cả một bên
mặt cô sưng lên. Lần này cô đau nhức quá không
chịu nổi nữa. Dì Antony đưa cô đến thảo luận với
thầy Sáu. Sau một hồi thảo luận,
Dì Antony nói với thầy Sáu:
-
Không làm thế nào khác được nữa đâu. Thầy cứ nhổ
cho cô ta!
Thầy Sáu
xem ra cũng chịu giải pháp Dì Antony đưa ra,
nhưng thầy còn hỏi lại:
-
Đây là trường hợp lớn đây Dì ạ!
-
Phải! Lớn chứ! Tôi biết. Nhưng nếu để nó cứ vậy
mãi và còn có nguy cơ làm độc trầm trọng nữa.
-
Vậy Dì…
Dì Antony hiểu ý thầy Sáu muốn Dì yểm trợ tinh
thần và nhất là cầu nguyện cho việc làm của
thầy. Kết quả là thầy Sáu đã thành công: cô gái
đã không vong mạng, ngược lại đã thoát
hiểm. Nhờ đó uy tín thầy Sáu cũng lên rất cao.
Song song với việc huấn luyện và nâng đỡ các
người phụ tá, Dì Antony còn nhìn thấy một mối
nguy cơ khác không kém phần trầm trọng, đó là
thiếu thuốc triền miên. Nếu biết được cây thuốc
nào,
Dì cố vận động và đích thân Dì trông coi để có
thêm nguồn thuốc bổ túc vào nguồn thuốc hiếm hoi
thỉnh thoảng
đưa lén vào cho Dì. May mắn cho công việc bổ túc
nguồn thuốc tây thường dùng, trong trại có một
bệnh nhân biết qua về thuốc Bắc và thuốc Nam,
nên ông ta cũng chỉ dẫn cho Dì Antony nhiều cây
thuốc Nam có giá trị và chỉ dẫn cách trồng tỉa.
Rất tiếc là ông ta đi lại khó khăn vì một bàn
chân ông đã bị trùng cùi ngậm nhấm mất quá nửa
rồi. Những cây thuốc trồng được đưa lại cho ông
và ông bào chế thành những chén thuốc thông
thường cho bệnh nhân, hiệu nghiệm nhất là về
đường ruột… Trong nhật ký của Dì Antony viết về
người ân nhân cung cấp thuốc Nam cho trại, Dì
ghi lại lời Thánh
vịnh:
Việc Ngài làm đều tín thành chính trực,
Mệnh lệnh Ngài hết thảy được vững bền,
Được lập ra cho muôn kiếp lưu truyền
Sự nghiệp Chúa tràn đầy mặt đất.
(x.
Tv 110,7-8)